Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Bị thương không đau

Xin thân chào các bạn!

Nếu nói về lý do nào khiến tôi tin Chúa và muốn trở thành người hầu việc Chúa thì có rất nhiều điều để trình bày, nhưng tôi xin được làm chứng về một biến cố quan trọng nhất đã xảy ra để tôi được biến đổi từ một người không tin Chúa trở thành một người muốn được hiểu biết Chúa hơn, muốn đi nhà thờ, muốn trở thành người hầu việc Chúa…

Đó là một câu chuyện đã xảy ra từ rất lâu rồi – mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Tháng 9 năm 1972, trước khi nhập ngũ, tôi đã được Mục sư Nguyễn Đằng làm phép Báp-tem tại Hội Thánh Tin Lành Tôn Đản, ở quận 4, Sài Gòn. Mặc dầu vậy, niềm tin của tôi rất đơn sơ, chưa vững vàng. Hay có thể nói đúng hơn là tôi không biết gì về Chúa, vẫn còn sống buông thả theo những thú vui của trần gian.

Những tưởng khi vào quân đội thì được tự do hơn, không còn ở trong sự quản lý của gia đình thì tôi sẽ còn dễ sa ngã hơn nữa. Nhưng thật kỳ lạ, sau khi kết thúc khóa huấn luyện quân sự tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, tôi được chuyển về Trường Quân Y để thụ huấn về chuyên môn. Chính tại đó, tôi đã được gặp những người bạn là Chung Anh Tuấn, Huỳnh Minh Thông, Nguyễn Văn Minh (là Thông dịch viên chuyển ngành). Họ có điểm chung là rất yêu mến Chúa, và đó cũng là những người đã giúp cho tôi có cơ hội để hiểu biết về Chúa nhiều hơn.

Một đêm nọ, sau khi cùng một vài người bạn đi nhậu về, tôi bất chợt nghe lại ca từ của bài Thánh Ca quen thuộc phát ra từ một góc phòng. Tò mò muốn biết ai đang hát, tôi lân la đến hỏi thăm, và biết rằng họ là những tín đồ Tin Lành, đang nhóm cầu nguyện. Trong hơi men, tôi cũng nhận mình là tín đồ Tin Lành.

Thế rồi từ đó, tôi được mời tham gia nhóm cầu nguyện vào mỗi tối. Nhờ những đêm được cùng nhau cầu nguyện, được nghe chia sẻ Lời Chúa trong Thánh Kinh, và những kinh nghiệm theo Chúa của các bạn trong suốt thời gian huấn luyện chín tháng, đã thêm cho tôi sự hiểu biết về Chúa và lòng yêu mến Chúa hơn. Tuy nhiên cũng chưa phải là đã đủ vững vàng.

Thực lòng mà nói, tâm trạng tôi lúc đó đã biết khát khao muốn được đi nhà thờ để thờ phượng Chúa hơn bao giờ hết. Dầu rằng trước đó, tôi có rất nhiều cơ hội để đi nhà thờ, nhưng tôi không bao giờ cảm thấy khao khát giống như vậy. Với lòng mong ước cháy bỏng được thờ phượng Chúa như vậy, cho nên, trong những ngày đó tôi luôn cầu nguyện xin Chúa: “Kính lạy Chúa, là Cha Từ Ái của con, xin Chúa cho con có cơ hội được thờ phượng Chúa, hầu việc Chúa. A-men!”

Lời cầu nguyện chỉ đơn sơ như vậy thôi nhưng Chúa đã nhủ nghe và đáp lời tôi. Trong cuộc hành quân tại Long Tân, thuộc Tỉnh Bà Rịa, vào một ngày tháng 3 năm 1974, chúng tôi có một cuộc giao chiến từ sáng sớm cho đến khoảng một giờ trưa, không biết điều gì đó thôi thúc tôi cầu nguyện với Chúa như thế này: “Chúa ôi, nếu con bị thương thì xin Chúa cho con không có sự đau đớn.”

Một cảm giác ươn ướt ở bên hông phải, tôi đưa tay sờ vào thì đó là máu, biết là mình đã bị thương, tôi liền bò đến bên gốc cây để lấy băng cá nhân trong ba lô và tự băng bó vết thương.

Tại sao tôi phải lo nghĩ về điều đó, vì tôi đã được dạy tại trường rằng trong trường hợp bị thương nơi vùng bụng, thì có thể bị viêm phúc mạc. Nếu dùng thuốc giảm đau, sẽ làm mất đi triệu chứng của phúc mạc viêm, khi đó sẽ không được phát hiện sớm và phẫu thuật kịp thời thì sẽ chết. Cho nên, tôi đã quyết định không dùng thuốc giảm đau. Nhưng thật lạ lùng, tôi không cảm thấy đau đớn gì cả trừ cảm giác cấn cấn và tê buốt cả vùng hông bên phải. Nằm thêm một lúc nữa, không biết là bao lâu thì tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

Những tưởng rằng, khi mới bị thương thì không bị đau nhưng sau đó thì sẽ đau. Điều kỳ diệu đã xảy ra cho tôi: Trong suốt quá trình điều trị, vào mỗi sáng, lúc được thay băng, đó là giờ phút rất đau khổ vì tiếng la khóc thường vang lên. Riêng tôi, thì không cảm thấy đau đớn gì khi được rửa và thay băng, thậm chí tôi sợ bị mạch lươn trong vết thương nên đã kêu cô y tá chọc sâu vào trong vết thương để rửa cho sạch. Mọi người xung quanh cho rằng tôi quá can đảm. Nhưng thật ra Chúa đã làm phép lạ cho tôi, tôi bị thương mà không có sự đau đớn gì, đúng như những gì mà tôi đã cầu xin Chúa.

Phép lạ Chúa ban cho tôi không chỉ dừng lại ở chỗ bị thương không đau, nhưng vẫn còn tiếp tục ngay sau đó. Chúa khiến tôi được điều chuyển công tác và có cơ hội tự do đi nhà thờ để dự giờ cầu nguyện tối thứ tư của Hội Thánh, thờ phượng Chúa mỗi ngày Chúa nhật, và có thời gian để cộng tác trong các ngày lễ của Hội Thánh. Chúa cũng đã sử dụng tôi với chức vụ đầu tiên trong nhà Chúa là Thư Ký của Ban Thanh Niên Long Khánh năm 1973-1975. Tiếp theo sau đó là những ngày được hầu việc Chúa với các chức vụ khác nhau tại Hội Thánh Khánh Hội, Hội Thánh Sài Gòn, và hiện nay là Hội Thánh người Việt tại Chicago, trong vai trò giáo viên Trường Chúa Nhật.

Tôi cảm tạ Chúa, chỉ một lời cầu nguyện đơn sơ của tôi trong những ngày chập chững với Chúa: “Xin cho con có cơ hội để thờ phượng và hầu việc Chúa.” thì Ngài đã ban cho tôi phép lạ thật là diệu kỳ để cứu một đứa con hư mất của Ngài.

Đó là phép lạ lớn nhất mà Chúa đã làm cho tôi, và chắc rằng đối với tôi hay bất cứ người nào khác được ban cho ơn đó, thì chắc hẳn rằng đã đủ để nung nấu trong tấm lòng một ý chí muốn được hầu việc Chúa. Nhưng, đó chưa phải là phép lạ cuối cùng mà tôi từng được trải nghiệm trên con đường tin và bước theo Chúa.

Có lẽ các bạn sẽ hỏi vì sao tôi không đi học Thần Học và trở thành đầy tớ của Chúa ngay thời điểm đó, đúng không ạ?

Ước muốn, khao khát, là một lẽ, nhưng thực tế có lý lẽ riêng của nó. Ngay sau 1975, trở về sinh hoạt với Hội Thánh Khánh Hội, với số tín hữu còn lại rất ít ỏi, Hội Thánh không có quản nhiệm và ba tôi là Thư ký kiêm nhiệm xử lý thường vụ. Mọi sinh hoạt của Hội Thánh lúc đó hầu như do tôi là Trưởng ban Thanh Niên chịu trách nhiệm.

Trong thời điểm đó, Thánh Kinh Thần Học Viện đã mở lớp chiêu sinh năm cuối cùng và trong lòng tôi lúc đó rất muốn được đi học, thế nhưng không thể để cho các sinh hoạt của Hội Thánh bị thiếu người tổ chức. Do vậy, tôi đành phải gác lại niềm khao khát của mình, với hy vọng rằng sau khi đã ổn định rồi thì đi học cũng không muộn. Nhưng không phải như vậy, vì đó cũng là năm cuối cùng của Thần Học Viện Nha Trang. Thế là tôi đành lỗi hẹn.

Đến năm 2003, Thánh Kinh Thành Học Viện được phép mở lại ngay tại Hội Thánh Sài Gòn thì lúc đó tôi lại quá tuổi để làm đơn nhập học. Không có cơ hội đi trực tiếp thì đành phải đi con đường vòng bằng cách theo học khóa 2 Nhân Sự Phát Triển Hội Thánh với hy vọng sẽ có lớp Trung Cấp được cho phép. Thế nhưng khóa đó cũng không được cấp phép.

Mọi cánh cửa dường như đã đóng lại trước tôi, cho đến khi tôi định cư tại Hoa Kỳ thì Chúa lại mở cho tôi một con đường mới. Nhưng trên hết tôi tin rằng Chúa biết khi nào tôi thực sự hội đủ tiêu chuẩn cần phải có để phục vụ Ngài. Con đường được đi học và để trở thành một người hầu việc Chúa của tôi là một còn đường thật dài cho đến ngày nay sau 47 năm, kể từ khi tôi nhận biết Chúa cách cá nhân.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021 tôi chính thức được thông báo của Viện Thần Học Báp-tít Việt Nam tại Hoa Kỳ chấp nhận cho tôi được vào chương trình Cao Học Mục Vụ của Viện. Có thể nói cho đến hiện nay mọi thứ đều mới ở những bước khởi đầu, nhưng tôi sẽ không từ bỏ, mà cứ tiếp tục bước tới cho đến cuối cùng vì tôi tin Chúa có chương trình cho đời sống của tôi.

Đó sẽ là một câu chuyện dài với những điều phước hạnh khác mà chỉ có Chúa mới biết thời điểm nào là thích hợp cho tôi được trở thành người hầu việc Chúa trọn vẹn.

Nhân đây xin được gửi lời mời gọi các bạn đang trong tuổi thanh niên, hãy dâng đời mình cho Chúa, vì hiện nay cơ hội, và điều kiện đều thuận lợi và tốt hơn rất nhiều so với thời của tôi.

Muốn thật hết lòng!

Bài làm chứng của ông Võ Ngọc Hưng, cựu chấp sự HTTL Sài Gòn

Là Hội Thánh Tin Lành đầu tiên tại Sài Gòn, trực thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, được thành lập năm 1920.
Sứ mệnh Hội Thánh:
“TẤT CẢ VÌ NGƯỜI CHƯA ĐƯỢC CỨU”

© 2024. Bản quyền thuộc về Hội Thánh Tin Lành Sài Gòn