Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Đức Tin của người vợ làm thay đổi vận mệnh gia tộc

Kính thưa quý vị, “Hành trình đức tin” của mỗi người trong chúng ta đều có hoàn cảnh khác nhau, cách suy nghĩ và cách đối diện với cuộc sống, những thời khắc phải quyết định con thuyền của gia đình mình. Tôi xin kể về câu chuyện của mình của gia đình trong suốt 60 năm theo Chúa và 80 năm trên đất của tôi. Câu chuyện liên quan đến một người phụ nữ mà tôi ngưỡng mộ, thương yêu nhất.

Chuyến hành trình như một dấu ấn đầy màu sắc về cuộc sống: lúc trầm lúc bổng như bài thần ca. Đó cũng chính là câu chuyện cuộc đời của chúng tôi bước đi với Chúa. Câu chuyện về cuộc đời của một người đã vượt qua những định kiến, đến với tình yêu nam nữ, dẫn dắt tôi đến với Chúa, hướng dẫn cả gia đình đi trong lẽ thật, đức tin, hy vọng nơi Thượng đế là Đấng lạ lẫm với tôi. Người tôi muốn nói đó chính là Bà ĐỖ THỊ NGUYỆN là người vợ tuyệt vời của tôi dù nay bà đã về với Chúa vào tháng 8/2020 vừa qua, hưởng thọ 79 tuổi.

Thời gian qua đi thật nhanh, nay tôi được 80 tuổi nhưng những ký ức của tháng ngày qua giờ ùa về với những kỉ niệm khó quên, tôi khắc ghi và dâng lên Chúa lời tạ ơn từ tận đáy lòng của tôi, các con tôi và cả dòng họ tôi nữa. Chúng tôi đã trở thành con của Chúa là một câu chuyện rất hay. Từ nơi không biết gì về Chúa, từ nơi vực sâu Chúa nâng tôi và gia đình cùng họ hàng tôi lên, phục hồi địa vị làm con của Chúa. Bình an, đức tin, hy vọng là điều tôi đã trải qua hành trình 60 năm đức tin của mình.

Tôi tên NGUYỄN NGỌC THANH, sinh năm 1941, nguyên quán Bến Tre. Từ nhỏ tôi theo đạo thờ cúng ông bà, chưa từng biết về Tin Lành về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời là ra sao, nhưng sự cứu rỗi bởi ân điển Chúa đã chọn tôi, đặt tôi vào cuộc hôn nhân với người Tin Lành đó là vợ tôi. Bà ấy đã chấp nhận tình yêu của tôi, làm dâu trong gia đình ngoại đạo (thờ ông bà). Đó là một thử thách và hy sinh của Nguyện khi chấp nhận tôi vì gia đình Cơ Đốc rất khó chấp nhận một người ngoại giáo như tôi.

Một câu hỏi đặt ra: Liệu có sự thay đổi cho cuộc trả giá này hay không? Và cuộc hành trình cuộc đời của gia đình chúng tôi đã trả lời cho câu hỏi này. Khi tôi biết Nguyện, lúc đó cô ấy đang giúp đỡ công tác mục vụ với ông ngoại là cụ Mục sư Thái Văn Nghĩa (Quản nhiệm Hội Thánh Gia Định 1950-1960) – nơi đã ươm mầm cho cuộc đời của một người nữ tin kính. Gia đình Nguyện là những người đầu tiên tại Hội Thánh An Hữu (Cái Bè, Tiền Giang), nơi đó có nhiều gia đình tin kính Chúa và trở nên người hầu việc Chúa thập niên 1940 – 1950. Cuộc phục hưng của Mục sư Tống Thượng Tiết viếng thăm Hội Thánh An Hữu, gia đình các cụ trong gia tộc có nền móng đức tin đầu tiên cho các con cháu sau này, cho Nguyện nói chung và rất nhiều con người đã ra đi hầu việc Chúa các nơi.

Nói về sự trở lại đạo của mình. Tôi được tham dự chương trình truyền giảng sau rất nhiều lần tìm hiểu. Năm 1963, tôi 21 tuổi và đã quyết định tin Chúa tại Hội Thánh Tin Lành Trần Cao Vân trong dịp Giáng sinh qua chương trình truyền giảng của Mục sư Billy Graham – một cột mốc thật ý nghĩa thay đổi tôi về mọi mặt: đức tin, quan điểm, chân lý sống,… và chịu Báp têm năm 1965 bởi Mục sư Lê Văn Phải. Thật cảm ơn Chúa thật nhiều, Ngài đã không bỏ tôi ra ngoài dòng sông tin kính của đạo Tin Lành. Ngài cứu tôi bởi ân điển của chính Ngài. Kể từ đó đức tin còn non trẻ dần dần được tươi mới hơn, cũng có lúc suy ngã nhưng luôn nhờ sự nâng đỡ của vợ và Hội Thánh tôi trở nên mạnh mẽ hơn.

Năm 1966, hôn lễ giữa tôi và Nguyện diễn ra trong tình yêu. Tôi tin rằng đó là ý muốn của Chúa trên đời sống tôi. Tôi đã chọn Chúa và chọn người tôi thương, càng trân trọng hơn khi Nguyện là người chấp nhận tôi. Chúng tôi cùng trải qua những thử thách từ trong gia đình của mình (ngoại đạo), đã rất khó khăn khốn khó cho bà ấy suốt nhiều chục năm như thế, đây quả thật là một hành trình đức tin đầy chông gai trong chính gia đình. Chính đời sống bao dung trong tình yêu đến từ Thiên Chúa, đức tin mạnh mẽ của Nguyện đã cảm hóa tôi rất nhiều và những thành viên gia đình bên nội cũng trở về tin nhận Chúa Giê-xu. Một thành quả ngọt ngào, xứng đáng cho người kiên nhẫn cầu nguyện cho những người mình yêu thương của mình.

Nguyện chính là người đã lèo lái gia đình vượt qua giông tố cuộc sống nhất khi tôi đang sinh tử ở chiến trường, dẫu tôi chỉ là sĩ quan tài chánh nhưng nhiều lúc phải đến với chiến trường các nơi, lắm lúc cứ tưởng như nguy kịch đến với tôi: hai lần thoát chết vì tai nạn rơi máy bay trực thăng, hai lần thoát được bom mìn khi đồng đội mất đi một nửa khi giai đoạn tôi là sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sự chết gần như đối diện nhưng tôi vẫn thoát được cách lạ kỳ: lời thầm nguyện xin Chúa cứu con vì con còn vợ và 5 đứa con rất nhỏ. Ở trại cải tạo tập trung sau khi chiến tranh kết thúc, lần nữa sự khổ cực vì bị bắt làm lao động đến suy kiệt sức khỏe đôi lúc cũng chịu không nổi. Điều gì đã khiến tôi được bình an giữa nghịch cảnh đó? Đó chính nhờ lời cầu nguyện của người vợ cùng các con tại nhà, Chúa đã nghe và đáp lời. Ngài gìn giữ tôi trong những thời khắc sinh tử đó. Thi thiên 23 được cất lên hằng đêm, Chúa cho tôi vượt qua gian nguy cách lạ thường như vậy. Cảm ơn Chúa vô cùng vì Chúa đã nhậm lời cầu nguyện tha thiết của vợ và các con.“Tôi nhịn nhục trông đợi Đức Giê-hô-va, Ngài nghiêng qua nghe tiếng kêu cầu của tôi. Ngài cũng đem tôi lên khỏi hầm gớm ghê, khỏi vũng bùn lấm; Ngài đặt chân tôi trên hòn đá, và làm cho bước tôi vững bền” (Thi thiên 40:1, 2)

Năm 1975 chiến tranh kết thúc, Nguyện đã phải dắt đàn con 5 đứa về tá túc ở quê ngoại tại An Hữu. Tôi vẫn ở trại cải tạo, một mình bà ấy phải chăm sóc những đứa con, tảo tần làm mọi việc để có được miếng ăn cho các con và còn phải chuyển thực phẩm vào trại cải tạo cho tôi. Chừng đó năm là một gánh nặng rất lớn đối với Nguyện. Nhưng thật ngạc nhiên người phụ nữ ấy đã làm được tất cả để lo toan cho các con bởi nhờ Chúa thương xót chu cấp đầy đủ sản vật từ cây nhà lá vườn. Lời cầu nguyện nương nơi Chúa luôn là động lực, cứu cánh cho gia đình. Cứ như thế, hằng đêm nơi miền quê, những bài Thánh ca được trỗi lên, những lời cầu nguyện, tạ ơn tha thiết được trình dâng lên Chúa – Đấng hằng gìn giữ chúng tôi qua nhiều gian khó. Lúc gian khó nhất chính là lúc đức tin gia đình vững vàng hơn bao giờ hết, chúng tôi đã thay lời than vãn bằng lời tạ ơn Chúa. Niềm vui, tiếng cười không hề thiếu trong gia đình, các con tôi là những người luôn nhớ những thời khắc như thế.“Còn tôi là khốn cùng và thiếu thốn; Dầu vậy, Chúa tưởng đến tôi. Chúa là sự tiếp trợ tôi, và là Đấng giải cứu tôi. Đức Chúa Trời tôi ôi! xin chớ trễ hoãn.” (Thi thiên 40:17)

Khi tôi được trở về, cả gia đình quyết định chuyển về Sài Gòn sống cùng gia đình bên nội. Đây là giai đoạn khó khăn chung của đất nước lại thêm gia đình bên nội là những người không thích Tin Lành, gây nhiều khó khăn, buộc ép chúng tôi từ bỏ niềm tin của mình nếu muốn ở cùng bên nội. Chúng tôi rất hiểu và thông cảm cho họ vì tất cả chưa hiểu chưa biết về Đấng mà mình khước từ chống đối là ai, chúng tôi chỉ cầu nguyện xin Chúa thương xót. Trước diễn biến đầy căng thẳng như thế buộc chúng tôi phải ra riêng, không biết khó khăn sắp tới ra sao. Chúng tôi ra đi và chấp nhận trả giá khi theo Chúa, quyết giữ đức tin nơi Ngài và tin cậy nơi sự bênh vực của Chúa. Khi trả giá cho đức tin cũng là lúc Chúa ban cho bội phần về công việc làm thời khắc đó, chỗ ở mới tại Trương Định quận 3. Chúa đã sai đến những người bạn giúp tôi hợp tác, giao thương với người Hoa để mua bán. Một sự ban cho hết sức tốt đẹp, công việc ngày càng mở rộng, nguồn tài chánh Chúa cho đã cứu giúp rất nhiều người trong gia đình bên nội thời đó, giúp con cái tôi tớ Chúa nhiều nơi. Và thời điểm đó chúng tôi đã nói về Chúa dễ dàng hơn cho gia đình: nói về sự ban cho của Chúa, đã có vài gia đình thành viên trong họ hàng suy nghĩ và đồng ý tin nhận Chúa, có cả các cháu nữa cũng đã trở lại tin nhận Chúa, mỗi ngày một nhiều thêm cho đến mãi hôm nay. Đức tin mỗi ngày đều mạnh hơn.“Ngài để nơi miệng tôi một bài hát mới, tức là sự ngợi khen Đức Chúa Trời chúng tôi. Lắm người sẽ thấy điều đó, bắt sợ, và nhờ cậy nơi Đức Giê-hô-va” (Thi thiên 40:3)

Sự vững vàng đức tin đã cứu giúp tôi và các con đi trong đường lối của Chúa. Vượt qua bao khó khăn về kinh tế, dành tình yêu đối đãi với người khinh chê mình,… Kết quả Chúa dành cho gia đình đó là PHƯỚC HẠNH. Năm người con Luân, Vũ, Uyên, Thư, Chương cùng gia đình chúng nó là những người kế thừa cho một dòng dõi Thánh thuộc về Chúa đã và đang bước đi và phục sự Chúa như ông bà cha mẹ, là những người sắc son yêu kính Chúa. Tôi đã từng xúc động rơi nước mắt khi nghe tiếng hát ca ngợi Chúa của cháu tôi cất lên giữa Hội Thánh Sài Gòn, người mà trước kia cũng từng chống đối đạo của Chúa, nay trở về trong vòng tay của Cha Thiên từ ái đầy yêu thương. Lòng chúng tôi thật cảm động vô cùng vì ân điển Chúa lan toả đến nhiều người, đức tin ngày càng mạnh mẽ và vững vàng.“Nguyện hết thảy những kẻ tìm cầu Chúa, được vui vẻ và khoái lạc nơi Chúa; Nguyện những người yêu mến sự cứu rỗi của Chúa, hằng nói rằng: Đức Giê-hô-va đáng tôn đại thay” (Thi thiên 40:16)

Tôi xin mượn Thi Thiên 23 làm lời kết. Đó cũng là bài Thánh ca hằng đêm gia đình tôi luôn hát lên để ca ngợi sự gìn giữ của Chúa, chúng tôi dầu qua trũng bóng chết hay mé nước bình tịnh thì lòng nương cậy nơi Chúa luôn ngự trị trên mỗi con tim, trí óc của từng người trong gia đình. Chúa chúng tôi là Giê-hô-va, Đấng công bình và luôn làm ơn, chậm nóng giận và đầy sự nhơn lành. Chúa bênh vực chúng tôi qua nhiều nghịch cảnh trong cuộc sống. Những ngày cuối đời của Nguyện, bài Thi thiên ấy lại được hát lên liên tục trong gia đình như một thông điệp cho một sứ mạng trên đất sắp kết thúc và truyền lại thông điệp ấy “Thi Thiên 23” cho thế hệ tiếp nối tiếp tục hành trình đức tin mà trên hành trình đó Lời Chúa phải luôn làm nền tảng và lẽ sống, phục sự Chúa trong mọi hoàn cảnh, sử dụng ân tứ Chúa ban cho để hầu việc Ngài.“Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì. Ngài khiến tôi an nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, dẫn tôi đến mé nước bình tịnh. Ngài bổ lại linh hồn tôi, dẫn tôi vào các lối công bình, vì cớ danh Ngài. Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi; Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi. Chúa dọn bàn cho tôi trước mặt kẻ thù nghịch tôi; Chúa xức dầu cho đầu tôi, chén tôi đầy tràn. Quả thật, trọn đời tôi phước hạnh và sự thương xót sẽ theo tôi; Tôi sẽ ở trong nhà Đức Giê-hô-va cho đến lâu dài”

Hành trình đức tin của Nguyện đã kết thúc tháng 8/2020, Chúa cho bà hưởng thọ 79 tuổi. Nguyện đã góp phần cùng Hội Thánh Chúa tại Sài Gòn viết nên một trang sử – trong mắt nhìn của tôi. Nguyện là một người vợ, người mẹ đảm đang; một giáo viên dạy giáo lý tận tâm; một chấp sự luôn sẵn sàng dành thời gian cho công việc của Hội Thánh ở mức độ cao nhất đầy trách nhiệm. Hơn 40 năm gắn bó với HTTL Sài Gòn là quãng thời gian an bình nhất, phước hạnh nhất vì được cống hiến cho công việc của Chúa. Bà là nữ chấp sự có thời gian hầu việc Chúa rất lâu, qua nhiều thời kỳ quản nhiệm của các Mục sư: Mục sư Ông Văn Huyên, Mục sư Nguyễn Thành Sơn, Mục sư Phan Quang Thiệu. Bà cũng có cơ hội cộng tác, hầu việc Chúa với các tôi tớ Chúa là Mục sư Phạm Văn Thâu, Mục sư Nguyễn Phú Ngọc, Mục sư Trần Văn Sánh, Mục sư Đoàn Văn Miêng.

Gia đình chúng tôi được yêu thương, quan tâm rất nhiều. Thật biết ơn Quý vị và cảm tạ Chúa. Chúa cho tôi sống đến ngày nào thì sẽ tiếp tục sứ mạng đức tin của bà Nguyện để lại để nhắc nhớ con cháu về điều trọng yếu của Cơ Đốc nhân là: kính Chúa yêu tha nhân. Cảm ơn Chúa về hành trình đức tin của một người nữ tin kính đã để dấu ấn đậm nét cho gia đình, nhiều bạn hữu, bà con và Hội Thánh. Một tấm gương sáng cho con cháu. Mọi sự vinh hiển thuộc về Đức Giê-hô-va Cảm ơn Chúa vì cơ nghiệp bền vững Ngài ban cho!Xin chào thân ái cùng toàn thể quý vị trong Hội thánh.

Lời làm chứng của Ông NGUYỄN NGỌC THANH – Thuộc viên HTTL Sài Gòn

Là Hội Thánh Tin Lành đầu tiên tại Sài Gòn, trực thuộc Hội Thánh Tin Lành Việt Nam, được thành lập năm 1920.
Sứ mệnh Hội Thánh:
“TẤT CẢ VÌ NGƯỜI CHƯA ĐƯỢC CỨU”

© 2022. Bản quyền thuộc về Hội Thánh Tin Lành Sài Gòn